Số lượng truy cập

Đang truy cập: 59

Truy cập trong ngày: 84

Tổng số lượt truy cập: 3533625

Liên kết website

Hình ảnh quảng cáo

CHI TIẾT THÔNG TIN

Khái quát về Tiếng Trung Quốc (28-01-2014)

Chữ Hán hay còn gọi là chữ Nho, là một dạng chữ viết biểu ý của tiếng Trung Quốc, bắt nguồn từ thời xa xưa dựa trên việc quan sát đồ vật xung quanh và vẽ thành dạng chữ tượng hình, chữ mang ý nghĩa. Chữ Hán đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển:

  

I.       Tóm lược về Trung Quốc

Địa lý và dân cư. Đất nước Trung Quốc là tổng hợp của nhiều quốc gia và nền văn hóa đã từng tồn tại và nối tiếp nhau trên lục địa Đông Á. Lịch sử Trung Quốc đặc trưng bởi những chia tách và thống nhất lặp đi lặp lại qua các thời kỳ hòa bình xen kẽ chiến tranh trên một lãnh thổ đầy biến động. Từ một vùng đất chính tại Bình nguyên Hoa Bắc, lãnh thổ Trung Quốc bành trướng ra xung quanh và lan ra tận các vùng phía Đông, Đông Bắc và Trung Á.

Với tổng diện tích 9.596.960 km2 và dân số 1.336.718.015, Trung Quốc không chỉ là đất nước với diện tích rộng lớn bậc nhất thế giới mà còn là đất nước đông dân nhất thế giới. Đây là ngôi nhà chung của 56 dân tộc, trong đó dân tộc Hán là chủ yếu (chiếm 93% dân số), ngoài ra còn có 55 dân tộc ít người (chiếm 7% dân số cả nước).

Chính trị. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo dưới chế độ một chính trị một đảng. Đơn vị hành chính của đất nước này bao gồm 22 tỉnh, 5 khu tự trị, 4 thành phố trực thuộc trung ương và 2 đặc khu hành chính, với thủ đô là Bắc Kinh.

Tôn giáo. Nền văn minh Trung Quốc chịu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo khác nhau. Đạo giáo là tôn giáo lớn nhất với hơn 30% dân số Trung Quốc tin theo, Phật giáo chiếm 10,85% và 18% dân số của Trung Quốc theo các tôn giáo khác, trong đó Kitô giáo chiếm 3,2% dân số và đạo Hồi chiếm 2% dân số.

Kinh tế. Tính đến năm 2012, Trung Quốc đã là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới về GDP danh nghĩa. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế ,tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc năm 2011 đạt 7.298 nghìn tỉ USD, GDP bình quân đầu người đạt 5.417 đô la Mỹ.

Là  quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới cũng như là quốc gia nhập khẩu đứng thứ hai thế giới, Trung Quốc được nhiều học giả, nhà phân tích quân sự, nhà phân tích kinh tế đánh giá là một siêu cường tiềm năng.

II.    Đặc điểm của tiếng Trung

Tiếng Trung hay tiếng Hoa là một ngôn ngữ hay họ ngôn ngữ gồm các ngôn ngữ có ngữ điệu thuộc hệ ngôn ngữ Hán – Tạng. Mặc dù thường được coi là ngôn ngữ duy nhất với lý do văn hóa, trên thực tế mức độ đa dạng giữa các vùng khác nhau có thể sánh với sự đa dạng của các ngôn ngữ Rôman. Tuy vậy, tất cả mọi người nói các thứ tiếng Trung Quốc khác nhau đều dùng chung một dạng văn viết thống nhất có từ đầu thế kỷ 20 là bạch thoại (nghĩa là thứ tiếng bình dân dựa trên tiếng Quan Thoại) dùng gần như cùng một bộ chữ Trung Quốc.

Các ngôn ngữ Trung nói được chia thành các dạng chính sau:

- Quan Thoại

- Ngô

- Quảng Đông

- Mân

- Tương

- Khách Gia

 - Cám

Chữ Hán hay còn gọi là chữ Nho, là một dạng chữ viết biểu ý của tiếng Trung Quốc, bắt nguồn từ thời xa xưa dựa trên việc quan sát đồ vật xung quanh và vẽ thành dạng chữ tượng hình, chữ mang ý nghĩa. Chữ Hán đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển:

- Giáp cốt văn –  Cho tới hiện nay, chữ Hán cổ nhất được cho là loại chữ Giáp Cốt, chữ viết xuất hiện vào đời nhà Ân vào khoảng thời 1600-1020 trước Công Nguyên.

- Kim văn – ra đời vào cuối đời Thương, thịnh hành vào thời Tây Chu.

- Đại triện – thể chữ lưu hành thời Tây Chu (khoảng thế kỉ XI đến năm 771 trc.CN), phát triển từ Kim văn.

- Tiểu triện (hay Tần triện) – văn tự được nhà Tần thống nhất sử dụng sau khi Tần Thủy  Hoàng thống nhất Trung Quốc (221 trc.CN), là bước phát triển từ chữ đại triện, được dùng đến khoảng đời Tây Hán.

- Lệ thư (hay chữ Lệ) – một dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển chữ Hán. Nó đánh dấu việc chữ Hán hoàn toàn thoát khỏi hệ thống tượng hình, trở thành văn tự thực sự với sự ước lệ cao trong hình chữ,

- Khải thư – Bước phát triển hoàn thiện nhất của chữ Hán. Chữ Khải lưu truyền đến ngày nay, sau chữ Khải không còn thể chữ nào tiến bộ hơn nữa. Chữ Khải kết cấu chặt chẽ, nét bút chỉnh tề, lại đơn giản dễ viết, vô cùng quy phạm.

- Thảo thư hay chữ Thảo – Thực chất đây không hẳn là một dấu mốc trong quá trình phát triển chữ Hán. Thảo thư – nói một cách đơn giản là chữ Hán được viết rất nhanh.

- Hành thư (chữ Hành) – Chữ khải viết nhanh, nhưng không đến mức như chữ Thảo. Hành thư viết tự do, nhanh chóng hơn khải, nhưng không đến mức quá phóng túng như Thảo, nên Hành thư là loại chữ được sử dụng phổ biến nhất trong quá trình viết tay.  

 

Vạn lý Trường thành (China)

 

Công ty Cổ phần Giáo dục và Dịch thuật VEDICO

(VEDICO Translation and Education Joint Stock Company)  

Office: No. 8 – Ngõ 495 - Nguyễn Trãi St.,

         Thanh Xuân Dist., - Hà Nội - Việt Nam

Tel.:  + 84- 04- 355-33958; 04 66573941;

Fax.: + 84- 04- 355-33958

 

Mobile: 0904-128-134; Hotline: 0987 63 63 99

Website: www.thegioidichthuat.com ; www.daotaodichthuat.edu.vn   

E-mails : dichthuat@vedico.com.vn , contact@vedico.com.vn.

YM nick: hotrodaotao

Skype nick: phiendichcabin